Đăng ký   |    'vi-vn'
HomeKinh nghiệm cải cách và phát triển kinh tế - xã hội của các nước
Chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn của Nhật Bản và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
(04/15/2015)

Tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới là những giải pháp chính sách lớn của Đảng, Nhà nước đối với nông dân. Trong quá trình đó, tham khảo những kinh nghiệm của Nhật Bản -  một nước phát triển nông nghiệp theo hướng thâm canh với trình độ cơ giới hoá, hoá học hoá, thuỷ lợi hoá và điện khí hoá vào hàng bậc nhất trên thế giới hiện nay có ý nghĩa thực tiễn quan trọng.


Chính sách phát triển nông nghiệp ở Nhật Bản
 
Phát triển khoa học - kỹ thuật nông nghiệp
 
Sau chiến tranh, kinh tế Nhật Bản bị tàn phá nặng nề, không chỉ sản xuất công nghiệp mà nông nghiệp cũng đạt ở mức rất thấp, nguyên liệu và lương thực trong nước thiếu thốn trầm trọng. Do vậy trong điều kiện đất chật người đông, để phát triển nông nghiệp, Nhật Bản coi phát triển khoa học kỹ thuật nông nghiệp là biện pháp hàng đầu. Nhật Bản tập trung vào các công nghệ tiết kiệm đất như: tăng cường sử dụng phân hoá học; hoàn thiện công tác quản lý và kỹ thuật tưới tiêu nước cho ruộng lúa; lai tạo và đưa vào sử dụng đại trà những giống kháng bệnh, sâu rầy và chịu rét; nhanh chóng đưa sản xuất nông nghiệp sang kỹ thuật thâm canh, tăng năng suất... Đây là một thành công quan trọng về định hướng đầu tư khiến cho sản xuất nông nghiệp vào năm 1950 đã được phục hồi xấp xỉ mức trước chiến tranh. Sản xuất tiếp tục phát triển và tới 1953 đã vượt mức trước chiến tranh 30%. Sản xuất nâng cao là điều kiện thuận lợi để Nhật Bản thực hiện Chương trình hiện đại hoá sản xuất nông nghiệp.
 
Để phát triển khoa học - kỹ thuật nông nghiệp, Nhật Bản chủ yếu dựa vào các viện nghiên cứu nông nghiệp của Nhà nước và của chính quyền các địa phương. Thời gian này, những viện nghiên cứu vùng được nhà nước thành lập, trong đó Viện quốc gia về khoa học nông nghiệp được thành lập ở cấp Nhà nước là cơ quan có trách nhiệm tổng hợp gắn kết toàn bộ các viện nghiên cứu cấp ngành thành một khối. Việc nghiên cứu nông nghiệp do Viện nghiên cứu quốc gia và các viện nghiên cứu nông nghiệp chuyên ngành cùng đảm nhiệm. Bên cạnh đó, các viện nghiên cứu nông nghiệp cũng tăng cường liên kết nghiên cứu với các trường đại học, các xí nghiệp tư nhân và các hội khuyến nông. Nhờ vậy, việc phát triển và mở rộng việc áp dụng các nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp đã góp phần quan trọng vào việc tăng cường hiệu quả sản xuất nông nghiệp song song với những tiến bộ đạt được trong lĩnh vực phát triển cơ giới hoá, đầu tư và hoàn thiện những cơ sở hạ tầng.
 
Cải cách ruộng đất
 
Sau thế chiến thứ II, Nhật Bản thực hiện cải cách ruộng đất triệt để. Mọi nông dân đều được chia ruộng đất, nhưng đa phần họ sở hữu ít ruộng, thửa nhỏ. Hoạt động sản xuất khá manh mún, dựa vào sức lao động là chính, khó áp dụng máy móc, khoa học kỹ thuật.
 
Vì thế, Chính phủ Nhật Bản tạo điều kiện để nông dân sản xuất giỏi có thể tích luỹ ruộng đất, phát triển quy mô sản xuất, trở thành nông dân chuyên nghiệp sản xuất hàng hoá lớn. Thông qua tổ chức hợp tác, trang bị cho họ kỹ năng sản xuất, quản lý nông hộ, năng lực tiếp thu khoa học - công nghệ và nắm bắt các yêu cầu của thị trường.
 
Phát triển sản xuất có chọn lọc, nâng cao chất lượng nông sản
 
Kể từ sau năm 1951, việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật – công nghệ làm cho sản xuất nông nghiệp thừa dẫn đến giá cả nông sản liên tục giảm và thu nhập nông dân bị giảm sút. Năm 1956, thu nhập của mỗi nông hộ kém 10% và của mỗi nhân khẩu chỉ bằng 2/3 so với nhân khẩu công nhân thành phố. Tình hình này khiến cho nông dân lo lắng về tương lai của họ trong khi sản xuất nông nghiệp vẫn tiếp tục tăng. Thời kỳ này, ngành nông nghiệp Nhật Bản gặp phải nhiều khó khăn, nhiều vấn đề nông nghiệp đòi hỏi phải được giải quyết thông qua những chính sách mới về nông nghiệp như: các hộ nông dân thu nhập thấp; cạnh tranh kém trên thị trường quốc tế; số nông dân lao động phi nông nghiệp ngày một tăng; hệ thống cơ cấu công việc đồng áng bị tổn hại...
 
Để giải quyết những khó khăn trên và cải thiện điều kiện kinh tế của hộ nông dân, chính sách nông nghiệp của Nhật Bản đã nhấn mạnh tới việc chuyển từ chỗ tăng sản lượng lương thực một cách đơn thuần sang phát triển nông nghiệp trên cơ sở tăng hiệu quả kinh tế. Bước ngoặt của chính sách nông nghiệp thực sự bắt đầu khi Luật Nông nghiệp cơ bản được ban hành vào năm 1961, với hai phương hướng chính sách chủ yếu: Phát triển sản xuất có chọn lọc, cụ thể là đẩy mạnh sản xuất những sản phẩm có nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng và giảm sản xuất những nông phẩm có sức tiêu thụ kém. Hoàn thiện cơ cấu nông nghiệp, kể cả việc phát triển những nông hộ và hợp tác xã có năng lực về quản lý kinh doanh và canh tác. Chính sách giá cả được xem là quan trọng nhưng Nhật Bản còn ngần ngại khi thực hiện nâng giá, lý do đơn giản là sợ làm tăng nhanh nguồn thu nhập của nông dân.
 
Trong những năm 1960 và 1970, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Nhật đã đẩy thu nhập của nhân dân tăng đáng kể, nhu cầu tiêu dùng đạm động vật, mỡ, dầu thực vật, và hoa quả tăng nhanh, trong khi đó nhu cầu về gạo giảm xuống. Do có sự thay đổi khẩu phần ăn như vậy, nên chính sách và biện pháp sản xuất có chọn lọc được áp dụng chủ yếu cho chăn nuôi và cây ăn quả. Kết quả là từ 1960 đến 1970, sản phẩm chăn nuôi tăng 4 lần và sản lượng hoa quả tăng 2 lần; nhu cầu lương thực, thực phẩm ở trong nước phần lớn đã được giải quyết. Cũng trong thời gian này, lao động trong nông nghiệp giảm xuống khoảng 50%, song năng suất lao động lại tăng bình quân hàng năm 5-8% nhờ tăng cường cơ giới hoá và cải tiến quy trình kỹ thuật. Đây là tỷ lệ tăng bình quân cao nhất ở những nước phát triển.
 
Khẩu phần ăn của người Nhật đã thay đổi, nên ngành thực phẩm chế biến ngày càng chiếm vị trí quan trọng. Các chính sách về mua bán và chế biến nông phẩm như: hoàn thiện và củng cố mạng lưới bán buôn từ cấp trung ương tới địa phương; tổ chức hệ thống tín dụng cho những người tham gia dịch vụ mua bán; hướng dẫn kỹ thuật và quản lý cho những người quản lý các xí nghiệp nhỏ; bảo hộ cho người tiêu dùng... cũng được thực hiện.

Phát triển các HTX và các tổ chức kinh tế HTX dịch vụ
 
Tầng lớp nông dân nhỏ ở Nhật Bản cạnh tranh thành công trên thị trường là nhờ kinh tế hợp tác rất phát triển. Hiện các hợp tác xã nông nghiệp ở Nhật Bản có vai trò lớn, thu hút và hỗ trợ hiệu quả hơn 3 triệu hộ nông dân. Gần như 100% nông dân ở Nhật Bản là hội viên nông hội và xã viên hợp tác xã. Hệ thống hợp tác xã và nông hội được tổ chức theo nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng và dân chủ ra quyết định. Hội đồng quản trị từ cơ sở đến trung ương đều do xã viên bầu, giám đốc điều hành do hội đồng tuyển và hợp đồng. Các cấp quản lý có trách nhiệm thực hiện đúng nhiệm vụ được nông dân uỷ thác, bảo vệ và phản ánh quyền lợi của nhân dân. 
 
Hợp tác xã là người cung cấp chính các dịch vụ thiết yếu cho nông dân như: tín dụng, bảo hiểm rủi ro, khuyến nông, chuyển giao công nghệ, tiêu thụ sản phẩm, sử dụng tập thể các máy móc thiết bị. Đến nay, hợp tác xã đã mở rộng ra các lĩnh vực phúc lợi xã hội như điều trị y tế, giáo dục, văn hoá, cải thiện điều kiện sống, du lịch và đặc biệt là thương mại. Các tổ tư vấn nông nghiệp trong mỗi hợp tác xã làm cầu nối với các cơ quan nông nghiệp, các trạm nghiên cứu, cán bộ thú y và các nhóm nghiên cứu khoa học khác. Năm 1997, Nhật Bản có khoảng 16.869 tổ tư vấn nông nghiệp trong các hợp tác xã. Đây cũng là thị trường lớn thu hút cán bộ kỹ thuật, kỹ sư về công tác ở nông thôn.
 
Chính sách hỗ  trợ nông nghiệp
 
Về chính sách giá cả, đặc biệt chính sách trợ giá cho lúa gạo khá lớn, đã kích thích sản xuất và dẫn đến sản xuất thừa gạo. Các sản phẩm nông nghiệp khác như lúa mì và hoa màu đều giảm. Từ năm 1970, Nhật Bản bắt đầu hạn chế mức sản xuất gạo, do vậy Nhật Bản chỉ đáp ứng được 40% nhu cầu lương thực trong nước so với 79% của năm 1960. Theo quan điểm an ninh lương thực là mục tiêu số một nên ngành nông nghiệp được bảo hộ rất cao. Nhật Bản luôn khuyến khích sản xuất nông nghiệp theo kiểu tự cung tự cấp thông qua việc hạn chế nhập khẩu một cách tối đa. Điều này dẫn tới mức giá nông phẩm cao và khuyến khích sản xuất trong nước. Nhà nước có sự can dự rất sâu trong kiểm soát việc cung cấp và ấn định các mức giá cho một số loại hàng hoá nông phẩm ở thị trường nội địa. Chỉ riêng việc duy trì giá gạo cao, trong vòng hơn 30 năm qua Nhật Bản đã phải chi một khoản trợ cấp rất lớn 6 tỷ yên cho chính sách này và sau đó lại cần đến 5 tỷ yên để bán hết số gạo dư thừa đó .
 
Trong khi đó các đối tác thương mại chủ yếu của Nhật Bản đã triển khai một cách khó khăn những cuộc cải cách nông nghiệp theo khuynh hướng chung về tự do hoá thương mại của vòng đàm phán Urugoay và WTO thì sự ủng hộ của người Nhật cho những thay đổi đó vẫn còn rất yếu. Nền kinh tế Nhật Bản sau hơn một thập kỷ suy thoái đang tiếp tục cần phải có những sự điều chỉnh cơ cấu một cách mạnh mẽ hơn. Thất nghiệp ở mức cao và thu nhập thực tế giảm sút khiến cho người tiêu dùng đã có những phản ứng khi họ phải trả mức giá cao khi mua nông sản được sản xuất ở trong nước khi so sánh với mức giá trên thị trường thế giới. Trong khi đó việc nới lỏng tự do hoá nhập khẩu khiến cho giá một số hàng nông phẩm thấp đi.
 
Rõ ràng chính sách hỗ trợ nông nghiệp kéo dài của Nhật Bản đang làm tổn thương tới những điều mà nó cố tình bảo vệ vì lương thực được cho là dồi dào ở Nhật Bản nhưng giá cả lương thực vẫn khá đắt, đặc biệt đối với những ai có mức thu nhập thấp. Điều này làm giảm sức mua của người tiêu dùng, do đó làm tổn thương tới các nhà cung cấp khác trên cơ sở tạo ra các ảnh hưởng kinh tế mang tính dây chuyền. Việc hỗ trợ thu nhập cho người nông dân thông qua việc duy trì các mức giá nông sản cao, cũng làm cho tính cạnh tranh của khu vực này về mặt dài hạn và khả năng đảm bảo an ninh lương thực của Nhật Bản bị giảm sút.
 
Như vậy, có thể thấy các chính sách hỗ trợ trong quá khứ của Nhật dường như sẽ không còn phù hợp nữa và Nhật Bản đã đưa ra “Luật cơ bản mới về lương thực, nông nghiệp và khu vực nông thôn” vào cuối năm 1999 với hứa hẹn có những cuộc cải cách mới trong lĩnh vực nông nghiệp. Song thực tế cải cách nông nghiệp diễn ra hết sức chậm chạp. Việc này được lý giải bởi các ảnh hưởng chính trị của những người nông dân và các HTX nông nghiệp vẫn còn rất lớn trong xã hội Nhật Bản.
Đến nay Nhật Bản vẫn duy trì mức thuế cao đối với các mặt hàng như gạo, lúa mỳ và các sản phẩm từ sữa. Có thể thấy rõ điều này thông qua việc “so sánh về chính sách giữa các nước, khối nước khác nhau”. Ở Mỹ phần gánh nặng mà người tiêu dùng phải chịu đã giảm từ 46% trong giai đoạn 1986-1988 xuống còn 35% trong năm 2004; ở EU cũng giảm từ 85% xuống còn 54%, ngược lại ở Nhật Bản lại tăng từ 90% lên 91%. Với việc duy trì mức thuế cao, Nhật Bản đang phải đối mặt với những phản ứng của các đối tác thương mại trên các diễn đàn song phương và đa phương về sức ỳ quá lớn của Nhật Bản đối với tiến trình tự do hoá trong lĩnh vực nông nghiệp.
 
Chính sách với vấn đề phát triển nông thôn ở Nhật Bản
 
Chính sách “ly nông bất ly hương”: Hai nhóm chính sách chính là: phát triển doanh nghiệp nông thôn và đưa công nghiệp lớn về nông thôn để tạo sự gắn bó hài hoà phát triển nông thôn với phát triển công nghiệp, xoá bỏ khoảng cách về mức sống giữa đô thị và nông thôn. Ở Nhật Bản, năm 1950 thu nhập phi nông nghiệp đóng góp gần 30% tổng thu nhập của cư dân nông thôn, năm 1990 tăng lên tới 85%.
 
Ở Nhật Bản, không chỉ các ngành công nghiệp chế biến nông sản mà cả các ngành cơ khí, hoá chất đều được phân bố trên toàn quốc. Từ khi bắt đầu công nghiệp hoá (năm 1883), 80% nhà máy lớn ở Nhật đã được xây dựng ở nông thôn; 30% lao động nông nghiệp tham gia hoạt động phi nông nghiệp; năm 1960 tỷ lệ này tăng lên 66%. Nhờ chủ trương này mà công nghiệp sử dụng được một nguồn lao động rẻ, dân cư nông thôn có điều kiện cải thiện thu nhập.
 
Phát triển cộng đồng nông thôn qua các tổ chức hợp tác xã: các hợp tác xã và tổ chức kinh tế hợp tác dịch vụ nông nghiệp đã đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc đưa công nghiệp về nông thôn, xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, cung ứng vật tư và tiêu thụ nông sản. Nhờ chính sách đưa công nghiệp về nông thôn, ngày nay ở Nhật Bản hầu như không còn vùng nông thôn thuần tuý, kể cả vùng núi, vùng xa. Ranh giới giữa nông thôn và thành thị thật khó phân biệt cả về kinh tế, xã hội và đời sống. Quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn đã cơ bản hoàn thành.
 
Hợp tác xã nông nghiệp được xây dựng trên nền tảng làng xã nông thôn Nhật Bản. Trong mỗi làng xã, những mối quan hệ nhiều chiều đa dạng đã tồn tại từ rất lâu giữa các gia đình, giữa những người nông dân. Lợi dụng ưu điểm này, hợp tác xã nông nghiệp được xây dựng trên cơ sở cộng đồng nông thôn để tạo quan hệ cộng đồng mới vững chắc được bắt nguồn từ bên trong cộng đồng làng xã. Do vậy, hợp tác xã cũng rất chú trọng đến các hoạt động mang tính cộng đồng để làm cho cuộc sống ở nông thôn tốt đẹp hơn.
 
Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
 
Một là, tăng cường đầu tư và tích cực chuyển giao công nghệ, đào tạo và dạy nghề cho nông dân nhằm phát huy tài nguyên con người và áp dụng khoa học - công nghệ có hiệu quả. Đây là động lực chính cho tăng trưởng nông nghiệp tương lai, tạo ra bước đột phá về năng suất, chất lượng của nông sản; tăng khả năng cạnh tranh ở trong và ngoài nước.
 
Hai là, chính sách hỗ trợ trong nông nghiệp gồm 2 loại: hỗ trợ trong nước và trợ cấp xuất khẩu. Nhà nước cần hỗ trợ mạnh cho các hợp tác xã, hội nông dân để giúp các tổ chức này hoạt động tốt trong vai trò cung ứng vật tư nông nghiệp thiết yếu, đào tạo, dạy nghề, cung cấp thông tin, hỗ trợ kinh phí, điều kiện sinh hoạt, buôn bán xuất khẩu nông sản, bảo vệ lợi ích của người nông dân. Sự phát triển của các tổ chức hợp tác xã và hội nông dân giúp cho cộng đồng xã hội nông thôn phát triển hài hoà cả về kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường với điều kiện hợp tác xã thực sự hoạt động theo nguyên tắc tự lực, tự chịu trách nhiệm, quản lý dân chủ, hiệu quả hoạt động cao, có sự tương trợ lẫn nhau.
 
Ba là, hiện tích tụ ruộng đất bình quân ở Việt Nam chỉ có 0,6 ha/hộ; vào loại thấp nhất thế giới. Hiện nay, chính sách dồn điền, đổi thửa cho phép xử lý vấn đề đất đai manh mún. Nhưng cần thực hiện chính sách này từng bước một cách thận trọng và gắn với phân công lại lao động trong nông nghiệp, nông thôn trên cơ sở phát triển kinh tế hộ gia đình.
 
Bốn là, thực hiện liên kết nông nghiệp, nông thôn với công nghiệp và đô thị nhằm thu hẹp khoảng cách giữa đô thị và nông thôn theo hướng đưa công nghiệp, kể cả công nghiệp nặng về phân tán ở nông thôn; điều chỉnh kế hoạch mở rộng các đô thị lớn thành xây dựng nhiều thành phố vệ tinh nhỏ nằm ở nông thôn; đồng thời, cải thiện hệ thống giao thông để cư dân nông thôn và đô thị có thể di chuyển thuận lợi. Điều này vừa giúp tăng thu nhập cho cư dân nông thôn vừa giúp giảm áp lực người dân nông thôn đổ dồn vào thành thị./.
-----------------------------
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Chính sách tam nông của Nhật Bản – Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, Nguyễn Hồng Thu, Viện Kinh tế và Chính trị thế giới (Bài đăng trên website: http://www.inas.gov.vn/);
- Đặng Kim Sơn (2008), Kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp hoá, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội;
- Phùng Quốc Chí (2007), Phát triển hợp tác xã nông nghiệp: Kinh nghiệm Nhật Bản và bài học chính sách cho Việt Nam, Tạp Chí Quản lý kinh tế, số 17, tháng 11+12;
- www.tapchicongsan.org.vn

Nguồn: Trung tâm Thông tin và dự báo kinh tế xã hội quốc gia
Related news Send email Print [Back]
 
Trung Quốc: hai kịch bản rủi ro khi nợ tăng lên mức kỷ lục (04/28/2016)
Thu hút đầu tư Nhật Bản: Minh bạch là điều cốt lõi (01/19/2016)
Kinh tế Trung Quốc giảm tốc: Tác động đến thế giới ra sao? (01/19/2016)
Kinh nghiệm quốc tế trong cải cách thủ tục hành chính thuế (12/04/2015)
Kinh nghiệm của Israel về ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp (10/19/2015)
Bối cảnh Trung Quốc phá giá đồng nội tệ: Phản ứng của các thị trường tài chính (09/23/2015)
Bảy bài học từ người láng giềng (09/17/2015)
Chính sách tiền lương của một số nước và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam (09/09/2015)
Chính sách tỷ giá mới của Trung Quốc: Câu hỏi và lời giải cho Việt Nam (08/26/2015)
Chính sách thuế thương mại điện tử tại một số nước và gợi ý cho Việt Nam (08/24/2015)
1 2 3 Trang sau » Trang cuối »
Tin nổi bật
Lỗ hổng BT (03/11)
Quốc hội đã tạo cơ sở pháp lý đủ mạnh giải quyết nợ xấu (22/6)
Kết quả thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020
Báo cáo kinh tế vĩ mô quí IV và năm 2016
Liên kết
Thông tin dịch vụ
THÔNG BÁO
Member login
User name
Password
Đăng ký  |  Quên mật khẩu
Publications