Đăng ký   |    English
Trang chủĐiểm nóngBa đột phá trong chiến lược phát triển
Những cải cách thế chế tạo nên sự khác biệt của năm 2014
(28/01/2015)

Đại hội lần thứ XI của Đảng đã xác định cải cách thể chế là một trong ba khâu đột phá chiến lược. Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng, tiếp sau Hiến pháp năm 2013, có thể nói, 2014 là năm của cải cách thể chế với hang loạt các thay đổi tạo nên sự khác biệt về chất của thể chế kinh tế; dự kiến mang lại những tác động  to lớn và tích cực đối với môi trường kinh doanh mà cộng đồng doanh nghiệp đã mong đợi tự lâu.


Sau đây, xin điểm lại một số thay đổi chủ yếu trong các luật, nghị định, nghị quyết của Chính phủ đã được thông qua năm 2014; những thay đổi thực sự sẽ tạo nên sự khác biệt của năm 2014.

Tiếp tục đơn giản hóa, hợp lý hóa, giảm chí phí và thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp, thủ tục đầu tư. Theo xếp hạng của Ngân hàng về mức độ thuận lợi trong kinh doanh,  Luật doanh nghiệp (sửa đổi) sẽ cắt giảm 5 thủ tục ( so với 10 thủ tục trước đây); và thời gian hoàn thành thủ tục đăng ký doanh nghiệp cũng sẽ giảm từ 34 xuống còn 6 ngày. Với thay đổi nói trên, chỉ số khỏi sự kinh doanh của nước ta có thể sẽ cải thiện được khoảng 60 bậc, từ  trí 109 hiện nay lên vị trí khoảng từ 50 đến 60. Ngoài ra, với việc bãi bỏ ghi ngành nghề trong giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, thì toàn bộ các yêu cầu, thủ tục và chi phí đăng ký bổ sung, thay đổi ngành, nghề kinh doanh như trước đây cũng sẽ bài bỏ. Trước đây, khoảng hai phần 3 số công việc của cơ quan đăng ký kinh doanh ở hà nội và thành phố hồ chí minh là đăng ký bổ sung, thay đổi ngành, nghề kinh doanh. Đồng thời, Luật đầu tư  ( sửa đổi) cũng bãi bỏ yêu cầu cấp giấy chứng nhận đầu tư đối với tất cả các dự án đầu tư trong nước, bất kể quy mô và ngành, nghề kinh doanh; thu hẹp phạm vi cấp giấy chứng nhận đầu tư đối với các dự án đầu tư nước ngoài; chỉ yêu cầu xin giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án của nhà đầu tư nước ngoài (tức là người nước ngoài đầu tư vào Việt Nam) và dự án của doanh nghiệp FDI mà trong đó nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ từ 51% hoặc có nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp FDI nắm giữ từ 51% vốn điều lệ. Đồng thời, rút ngắn thời gian cấp giấy chứng nhận đầu tư còn 15 ngày, thay vì 45 ngày như trước đây.

Quyền tự do kinh doanh của người dân và doanh nghiệp đã được mở rộng đến mức tối đa và được bảo đảm một cách chắc chắn hơn.

Lần đầu tiên, doanh nghiệp việt nam được tự do kinh doanh trong tất cả các ngành, nghề mà luật không cấm. Điều 6 Luật đầu tư (sửa đổi) đã quy định rõ ràng và dứt khoát 6 ngành, nghề cấm kinh doanh. Đồng thời, như trên đã trình bày, Luật Doanh nghiệp ( sửa đổi) đã bãi bỏ yêu cầu đăng ký ngành, nghề kinh doanh trong giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Kết quả là, doanh nghiệp đã thực sự  có quyền và được bảo đảm quyền tự do kinh doanh tất cả các ngành, nghề mà luật không cấm; thay vì như hiện nay doanh nghiệp chỉ được quyền kinh doanh các ngành, nghề đã đăng ký. Như vậy, từ nay, tất cả các rủi ro pháp lý liên quan đến    “ kinh doanh không đúng với ngành, nghề đã đăng ký”, “ kinh doanh các ngành, nghề không có trong giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp”,.v.v… đều đã được bãi bỏ. Cái bẩy “ kinh doanh trái phép” đối với doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp và người quản lý doanh nghiệp về cơ bản đã được tháo bỏ.

Một thay đổi không kém phần quan trọng là Luật Đầu tư ( sửa đổi ) đã xác định rõ danh mục 267 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Điều đáng chú  ý là Luật đầu tư và Luật doanh nghiệp ( sửa đổi) đã coi ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh tương ứng do pháp luật đặt ra đối với người dân và doanh nghiêp là một hình thức hạn chế quyền kinh doanh của người dân. Vì vậy, các quy định về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, và điều kiện kinh doanh phải phù hợp với  khoản 2 Điều 14 của Hiến pháp năm 2013. Đó là:             “ Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội và sức khỏe của cộng đồng”. Sự đổi mới tư duy và hàm ý chính sách nói trên chắc chắn mở đường cho một cuộc cải cách đột phá trong các quy định hiện hành về điều kiện kinh doanh.

Bảo vệ tốt hơn, hiệu lực hơn các quyền  của các nhà đầu tư

Quyền sở hữu tài sản và bảo vệ hữu hiệu quyền sở hữu tài sản tư nhân là một trong các đặc trương cơ bản của kinh tế thị trường hiện đại. Theo xếp hạng của Ngân hàng Thế giới chỉ số hiệu lực bảo vệ quyền sở hữu của các nhà đầu tư ở nước ta rất thấp, ở vị trí thứ 165/189 quốc gia và nền kinh tế được xếp hạng.  Những thay đổi trong hàng  loạt các điều, khoản có liên quan của Luật doanh nghiệp ( sửa đổi ) sẽ có cải thiện vượt bậc mức độ bảo vệ quyền và lợi ích của các nhà đầu tư tại Việt nam. Đó là những thay đổi: (i) tạo điều kiện dễ dàng và thuận lợi hơn, ít tốn kém hơn cho các cổ đông nhỏ trong việc trực tiếp khởi kiện những người quản lý công ty; (ii) mở rộng đối tượng những người có lợi ích liên quan của công ty theo đúng thông lệ quốc tế; tăng thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông trong việc xem xét, chấp thuận các giao dịch của công ty với những người có liên quan của công ty; thực hiện công khai, minh bạch hóa thông tin và nâng cao hiệu lực giám sát đối với giao dịch của công ty với những người có liên quan; và (iii) nâng cao và thắt chặt trách nhiệm của những người quản lý, những người có liên quan của công ty trong việc công khai hóa, minh bạch hóa thông tin, cũng như trách nhiệm của họ trong bồi thường thiện hại từ các giao dịch đó đối với công ty. Ngoài ra, việc thay đổi khái niệm “doanh nghiệp nhà nước”, theo đó, doanh nghiệp là doanh nghiệp do nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ, cũng thể hiện hàm ý chính sách tôn trọng đầy đủ và công bằng quyền của các cổ đông trong các công ty có vốn đầu tư của nhà nước; và quyền và lợi ích của họ sẽ được bảo vệ theo đúng các nguyên tắc và thực tiễn tốt của quản trị công ty. Những thay đổi nói trên đã tiến sát với thông lệ quốc tế tốt; và dự kiến chó thể giúp chỉ số bảo vệ nhà đầu tư cải thiện được khoảng gần 100 bậc, từ thứ 157 lên thứ 60. Ng

Giảm chi phí tuân thủ, cải thiện đáng mức độ thuận lợi, dễ dàng đối với kinh doanh

 Đi đầu, đột phá trong giảm chí phí tuân thủ, cải thiện đáng kể mức độ thuận lợi và dễ dàng đối với kinh doanh là Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 18 tháng 3 năm 2014 của Chính phủ về một số giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Nghị quyết đã đề ra gần 50 giải pháp, trong đó, trọng tâm trong 2014-2015 la tập trung cải thiện các chỉ số năng lực cạnh tranh quốc gia theo xếp hạng của Ngân hang thế giới để hết năm 2015, năng lực cạnh tranh của môi trường kinh doanh Việt nam tối thiều bằng trung bình ASEAN6. Với sự chỉ đạo sát sao và quyết liệt của Thủ tướng Chính phủ, kết quả  thực hiện cho đến nay là rất đáng kể. Các bộ, ngành, địa phương đã triển khai thực hiện đồng thời 30 giải pháp, trong đó, 10 giải pháp đã mang lại kết quả rõ nét. Ngoài chỉ số khởi sự kinh doanh và bảo vệ nhà đầu tư như trình bày trên đây, thì thời gian nộp thuế và nộp bảo hiểm của doanh nghiệp đã giảm từ 872 giờ xuống còn khoảng 170 giờ/năm. Doanh nghiệp sẽ nộp thuế hàng quý, thay vì hàng tháng như hiện nay. Hồ sơ kê khai thuế được đơn giản hóa đáng kể không chỉ giảm chi phí tuân thủ, mà còn giảm rủi ro cho doanh nghiệp vì nhầm lẫn hay sai sót trong việc kê khai,.v.v.. thời gian tiếp cận điện đối với trạm trung áp đã rút ngắn được 42 ngày; giảm xuống còn 18  ngày.

 Thời gian và thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu cũng đã giảm đáng kể. Vấn đề còn lại liên quan đến chỉ số thương mại qua biên giới chủ yếu nằm ở khâu trước và sau thông quan hàng hóa. Đó là khoảng 200 loại giấy phép, giấy chứng nhận chuyên ngành được quy định trong hàng trăm văn bản pháp luật khác nhau; đó là những yếu kém về năng lực, chồng chéo và chậm trễ trong kiểm định, kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu, kiểm dịch động vật, thực vật, trong kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm,.v..v….Vì vậy, việc giảm thời gian thủ tục thông quan qua biên giới đối với hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu từ 21 ngày xuống còn khoảng 13-14 ngày ( như mục tiêu Nghị quyết số 19) phụ thuộc chủ yếu vào sự phối hợp hiệu quả của các bộ, ngành trong cải thiện chất lượng các quy định quản lý chuyên ngành và năng lực thực hiện các quy định đó.

Khoan sức dân, giảm gánh nặng thuế và tạo thêm thuận lợi  cho người dân và doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh

Ngày 26/11/2014,  Quốc hội ban hành 2 luật sửa đổi cùng lúc 6 luật thuế: Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), Luật Thuế thu nhập cá nhân (TNCN), Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT), Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt, Luật Thuế tài nguyên, Luật Quản lý thuế. Tư tưởng chủ đạo của các sửa đổi nói trên là khoan sức dân, giảm gánh nặng thuế  và tạo thêm thuận lợi cho người dân  doanh nghiệp. Những thay đổi cơ bản theo hướng nói trên bao gồm:

 - Bỏ mức khống chế 15% đối với khoản chi quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại, hoa hồng môi giới; chi tiếp tân, khánh tiết, hội nghị; chi hỗ trợ tiếp thị, chi hỗ trợ chi phí...

- Tăng mức ưu đãi thuế và mở rộng đối tượng ưu đãi thuế  TNDN cho nhiều lĩnh vực bao gồm: dự án đầu tư mới sản xuất sản phẩm thuộc Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho công nghệ cao, dự án hỗ trợ cho sản xuất sản phẩm các ngành dệt – may, da - giầ, điện tử - tin học, sản xuất lắp ráp ô tô, cơ khí chế tạo mà các sản phẩm trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất được nhưng phải đáp ứng được tiêu chuẩn kỹ thuật của Liên minh Châu Âu;  dự án đầu tư trong lĩnh vực sản xuất có quy mô vốn đầu tư lớn, sử dụng công nghệ cao, giải ngân đúng tiến độ; dự án đầu tư trồng trọt, chăn nuôi, chế biến trong lĩnh vực nông nghiệp và thủy sản ở  tất cả các địa bàn; dự án đầu tư sản xuất, nhân và lai tạo giống cây trồng, vật nuôi; sản xuất, khai thác và tinh chế muối, đầu tư bảo quản nông sản sau thu hoạch, bảo quản nông sản, thủy sản và thực phẩm…

- Đối với thu nhập của cá nhân kinh doanh có doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống không phải nộp thuế TNCN; đối với doanh thu trên 100 triệu đồng/năm thì nộp thuế TNCN theo tỷ lệ trên doanh thu đối với từng lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh: phân phối, cung cấp hàng hoá là 0,5%;  dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu là 2%; sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hoá, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu: 1,5%; thu nhập từ các hoạt động kinh doanh khác là 1%. Riêng cho thuê tài sản, đại lý bảo hiểm, đại lý xổ số, đại lý bán hàng đa cấp thì tỷ lệ nộp thuế trên doanh thu là 5%.

- Miễn thuế thu nhập từ tiền lương, tiền công của thuyền viên là người Việt Nam làm việc cho các hãng tàu nước ngoài hoặc các hãng tàu Việt Nam vận tải quốc tế; miễn thuế thu nhập của cá nhân là chủ tàu, cá nhân có quyền sử dụng tàu từ hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ trực tiếp phục vụ hoạt động khai thác, đánh bắt thủy sản xa bờ và thu nhập của thuyền viên làm việc trên tàu.

- Bổ sung đối tượng không chịu thuế GTGT đối với hoạt động đóng mới tàu đánh bắt xa bờ và chuyển 3 nhóm mặt hàng đang áp dụng thuế suất 5% sang đối tượng không chịu thuế GTGT là phân bón; thức ăn gia súc, gia cầm, vật nuôi; máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, ngư nghiệp.

- Giảm mức phạt chậm nộp tiền thuế từ 0,07%/ngày xuống còn 0,05%/ngày trên số tiền thuế chậm nộp. Trường hợp người nộp thuế cung ứng hàng hoá, dịch vụ được thanh toán bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước nhưng chưa được thanh toán thì không phải nộp tiền chậm nộp.

Ngoài ra, Luật đầu tư công và Luật đầu thầu ( sửa đổi ) đã bắt đầu thiết lập kỷ luật ngân sách cứng đối với đầu tư ngân sách và trái phiếu chính phủ; buộc người quyết định đầu tư phải cân nhắc và cân đối nguồn vốn trong quyết định các dự án đầu tư, qua đó, lựa chọn đầu tư sẽ thận trọng hơn, trách nhiệm hơn; làm giảm và thu hẹp mức độ méo mó, sai lệch của thị trường vốn trong huy động và phân bố vốn đầu tư. Nói cách khác, Luật đầu tư và Luật đấu thầu  ( sửa đổi ) đã bước đầu thiết chặt kỷ luật ngân sách đối với đầu tư từ ngân sách nhà nước và trái phiếu chính phủ; tăng cường trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước có liên quan trong lựa chọn, quyết định đầu tư và phân bố vốn đầu tư.

Tóm lại, những cải cách đột phá về thể chế kinh tế trong năm 2014 sẽ cũng cố  thêm các yếu tố nền tảng của kinh tế thị trường ở nước ta, làm cho thị trường hoàn thiện hơn, vận hành tốt hơn trong phân bố nguồn lực. Quyền tự do kinh doanh được mở rộng và được bảo đảm một cách chắc chắc, giảm rủi ro, tăng mức an toàn pháp lý, giảm chi phí tuân thủ, giảm gánh nặng về thuế  và tăng thuận lợi cho hoạt động kinh doanh,.v.v.. tất cả các yếu tố nói trên chắc chắn sẽ thổi một luồng sinh khí mới cho môi trường kinh doanh việt nam. Xếp hạng về môi trường kinh doanh việt nam chắc chắn sẽ có cải thiện thêm vài chục bậc.  Điều đó kết hợp với ổn định kinh tế vĩ mô ngày càng được cũng cố chắc chắn sẽ giúp phục hồi và tăng thêm sinh lực cho người đầu tư và doanh nghiệp; mang đến các cơ hội, lòng tin và động lực mới để mở rộng và phát triển kinh doanh; qua đó, giúp phục hồi và đưa nền kinh tế trở lại quỹ đạo tăng trưởng cao và bền vững như trước đây.

Tuy vậy, vẫn còn không ít các vấn đề cần quan tâm cải cách và còn đó không ít các rào cản đối với cải cách thể chế. Đó, trước hết là thay đổi tư duy và nâng cao năng lực quản lý nhà nước. Cách tiếp cận theo lối “chọn-bỏ” thay vì “chọn – cho” như trước đây cần phải có thời gian để nhận thức và triển khai thực hiện. Thách thức lớn nhất là liệu bộ máy quản lý nhà nước và từng cán bộ, công chức sẵn sàng chấp nhận tư duy mới; có đủ năng lực chuyển tư duy và nhận thức mới thành hành động tương ứng. Phương pháp “ chọn-bỏ” yêu cầu quản lý nhà nước phải được thực hiện theo yêu cầu phát triển, phù hợp với nhu cầu phát triển, và thúc đẩy tạo điều kiện phát triển.  Nói cách khác, cách thức quản lý theo năng lực, theo yêu cầu của cơ quan quản lý; cách quản lý theo lối “ năng lực đến đâu, thì mở ra đến đó” phải được thay thế. Như vậy, bộ máy quản lý và cách thức quản lý phải hết sức năng động, có khả năng dự báo tốt và có khả năng ứng phó với bất thường xảy ra. Muốn vậy, bộ máy quản lý và cách thức quản lý nhà nước phải có năng lực tự đổi mới; sẵn sàng chấp nhận đổi mới, sáng tạo; đồng thời, luôn nâng đỡ và nuôi dưỡng sáng tạo.

Trước mắt, phương pháp hay lối tiếp cận theo cách “ chọn - bỏ” cũng phải được áp dụng trong bổ sung, sửa đổi các luật có liên quan, nhất là các luật chuyên ngành và toàn bộ các quy định về điều kiện kinh doanh đối với ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. Đây quả là một nhiệm vụ khó khan, là một thách thức lớn cho quá trình cải cách tiếp theo.

Tác giả: Ts. Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương

Nguồn: Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương
Các tin liên quan Gửi email In [Quay lại]
 
Những nội dung chính trong đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta (28/08/2015)
Cải cách các thể chế kinh tế Việt Nam nhằm thúc đẩy việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường (28/01/2015)
Cải cách thể chế kinh tế để đổi mới doanh nghiệp nhà nước (07/01/2015)
Năm 2014 - Cải cách thể chế tạo nên sự khác biệt (05/01/2015)
Ba đột phá thể chế cần có để phát triển doanh nghiệp (06/05/2014)
Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam: Lý luận, thực tiễn và giải pháp (03/03/2014)
Chất lượng thể chế đang ở đâu? (24/02/2014)
Cần những giải pháp đột phá! (21/02/2014)
Kinh tế Việt Nam 2014: Đột phá thể chế, chấp nhận cạnh tranh (23/01/2014)
Chất lượng thể chế quyết định năng lực cạnh tranh (23/01/2014)
1 2 3 Trang sau » Trang cuối »
Tin nổi bật
Kết quả thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020
Báo cáo kinh tế vĩ mô quí IV và năm 2016
Hội nghị Trung ương 5 sẽ ra nghị quyết về kinh tế tư nhân
Dự thảo Luật Quản lý ngoại thương: Chưa đảm bảo tính minh bạch
Liên kết
Thông tin dịch vụ
THÔNG BÁO
Thành viên đăng nhập
Tên đăng nhập
Mật khẩu
Đăng ký  |  Quên mật khẩu
Ấn phẩm của viện